Chương trình Tô mỳ Minh duy

Giải quyết hiệu quả vấn đề trong những mối quan hệ

sac_thai_ten_mau_sac

  Sắc thái tên màu sắc 

Màu là đặc tính cảm thụ trực quan tương ứng trong loài người với các thứ loại gọi là màu đỏ, màu da bưởi, trắng, vân vân. Màu sắc có nguồn gốc từ quang phổ ánh sáng (phân phối năng lượng ánh sáng đối với bước sóng) tương tác trong con mắt với những độ nhạy quang phổ của các bộ thụ cảm ánh sáng. Các thứ loại màu sắc và các đặc điểm vật lý của màu sắc cũng liên quan tới các vật thể, các vật liệu, các nguồn ánh sáng, v. v., có cơ sở tại các thuộc tính vật lý của chúng như là sự hút thu ánh sáng, sự phản chiếu, hoặc sự quang phổ bốc toả.

Tiêu biểu chỉ bao gồm những đặc trưng cấu thành của ánh sáng mà loài người phát hiện (quang phổ bước sóng từ 400 nm đến 700 nm, phỏng chừng), nhờ đó những hiện tượng tâm lý của màu sắc có được quan hệ khách quan với những đặc điểm vật lý của nó. Bởi vì sự nhận thức màu sắc có gốc từ những độ nhạy cảm khác nhau của nhiều loại tế bào hình nón khác nhau trong cái võng mạc của con mắt cho đến những phần khác biệt của quang phổ, màu sắc có thể được định nghĩa và được xác định số lượng bằng mức độ chúng kích thích những những tế bào này. Những sự xác định số lượng màu sắc trên cơ sở vật lý hoặc sinh lý học, tuy nhiên, không giải thích đầy đủ sự nhận thức tâm vật lí của dáng điệu màu sắc.

Khoa học về màu sắc bao gồm sự nhận thức màu sắc của con mắt và bộ óc con người, nguồn gốc màu sắc trong các vật liệu, lý thuyết màu sắc trong nghệ thuật, và vật lý học về phóng xạ điện từ trong tầm khả thị (đó là, những gì chúng ta thường gọi đơn giản là ánh sáng).

Các nền văn hoá khác nhau có biệt danh khác biệt cho những màu sắc, và có thể cũng ấn định vài tên màu tới đôi phần hơi khác biệt trên quang phổ: chẳng hạn, chữ Hán 青 (được biểu hiện như qīng trong tiếng Quảng Đông và ao trong tiếng Nhật) có chủ ý bao trùm cả xanh dương lẫn xanh lá cây; xanh dương và xanh lá cây theo truyền thống được coi như là những sắc thái của “青.” Trong những từ hiện đại hơn, chúng là 藍 (lán, trong tiếng Quảng Đông) và 綠 (lǜ, trong tiếng Quảng Đông), có nghĩa tương ứng theo thứ tự trên, xanh dương và xanh lá cây. Nhật cũng nó có hai từ cụ thể nói lên màu xanh lá cây, 綠 (midori) và グリーン (guriin, có gốc từ tiếng Anh). Tuy nhiên, trong nước Nhật, mặc dù bộ đèn giao thông có cùng một bộ màu như ở các nước khác, họ lại dùng cùng một từ cho xanh dương, “aoi “, để gọi đèn xanh lá cây bởi vì xanh lá cây được coi như là một sắc thái của xanh dương.

Cũng như vậy, các ngôn ngữ tuyển lựa khi phân xử những sắc nào nên tách đôi vào nhiều màu khác biệt trên cơ sở mức độ sáng tối. Tiếng Anh tách vài sắc thành vài màu rõ rệt dựa theo độ sáng: như là màu đỏ (red) và màu hường (pink) hoặc màu cam (orange) và nâu (brown). Đối với người nói tiếng Anh, những cặp màu này, mà sự khác biệt giữa chúng không khách quan nhiều hơn sự khác biệt giữa xanh lá cây nhạt và xanh lá cây đậm, được hình thành trong óc như thuộc các thứ loại khác biệt. Một người Nga sẽ có những sự phân biệt giữa màu hường và đỏ cũng như giữa màu màu nâu và cam, nhưng cũng sẽ phân biệt thêm giữa siniigoluboi, hai màu mà người tiếng Anh sẽ đơn giản gọi là xanh dương đậm và nhạt. Đối với người nói tiếng Nga thì siniigoluboi có sự khác biệt giống như sự khác biệt giữa màu đỏ và màu hường hoặc giữa màu cam và màu nâu.

Tuy nhiên, Brent Berlin và Paul Kay, trong một truy cứu cổ điển về việc đặt tên màu sắc khắp thế giới đã biện hộ rằng những khác biệt này có thể được cho vào một tôn ti cố kết, và rằng có một số giới hạn những thuật ngữ màu sắc cơ bản toàn vũ trụ được các nền văn hoá bắt đầu dùng theo một thư tự tương đối cố định.

Berlin và Kay dựa sự phân tích của họ vào sự so sánh các chữ màu sắc trong 20 ngôn ngữ vòng quanh thế giới. Để được coi như là một thuật ngữ màu sắc cơ bản, những từ đó phải là bất phân nghĩa (monoleximic), rất thường dùng, và nhiều người trong ngôn ngữ đó đồng ý với nhau về ý nghĩa. Một từ gọi là bất phân nghĩa khi người ta không thể đoán được ý nghĩa của nó dựa trên một phần của từ đó, ví dụ như, xanh lá cây là một từ bất phân nghĩa, nhưng “xanh lá cây nhạt” hoặc “xanh rừng” thì không. Sự phân tích của họ cho thấy rằng, trong một văn hoá với chỉ có hai thuật ngữ cơ bản cho mằu sắc, hai thuật ngữ đó có nghĩa phỏng chừng là tối (bao gồm đen, những màu đậm và những màu như xanh dương) và sáng chói (bao gồm trắng, những màu nhạt và những màu ấm như màu đỏ).

tất cả những ngôn ngữ với ba thuật ngữ cơ bản cho màu sắc sẽ cộng màu đỏ vào sự phân biệt này. Những thuật ngữ màu sắc khác được cho thêm theo một thứ tự cố định: xanh lá cây và/hoặc màu da bưởi; xanh dương; nâu; và màu cam, màu hường, màu tím và/hoặc xám. Tất cả những ngôn ngữ với sáu thuật ngữ cơ bản cho màu sắc dùng đen, trắng, màu đỏ, xanh lá cây, xanh dươngmàu da bưởi, những màu này hầu như tương xứng với những độ nhạy của những tế bào hạch võng mạc trong mắt, làm Berlin và Kay biện hộ rằng đặt tên màu sắc không đơn thuần là một hiện tượng văn hoá, nhưng điều đó cũng bị sinh học gượng ép, trái lại với giả thuyết của Sapir và Whorf trong, Language, Thought and Reality, 1956, by Benjamin Lee Whorf.

Ngoài ra, nhiều màu sắc khác nhau thường hay liên quan với các trạng thái, giá trị hoặc nhóm xúc cảm khác biệt, nhưng những liên quan này có thể bất đồng giữa các nền văn hoá. Trong một hệ thống, màu đỏ được coi như là để làm động cơ thúc đẩy hành động; màu cam và màu tím thì liên quan đến tính chất tinh thần; màu da bưởi làm vui nhộn; xanh lá cây tạo sự thoải mái và ấm cúng; xanh dương nới lỏng; và trắng thì có liên quan tới hoặc sự tinh khiết hoặc cái chết.

Nguồn

Chương Trình Tô Mỳ Minh Duy

Thanh toán lệ phí bản quyền trước khi đăng lại

Advertisements

About cttmmd

creator of www.tapsu.com

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 25-02-2007 by in Bách khoa, Làm Web, Ngôn ngữ học, Nghệ thuật.
%d bloggers like this: