Chương trình Tô mỳ Minh duy

Giải quyết hiệu quả vấn đề trong những mối quan hệ

Hypertext là gì? TSGGML, HTML là gì?

Hypertext là gì? TSGGML, HTML là gì?

Tony Minh Duy

Xem tại nguồn dễ đọc hơn

Khi làm việc chuyên nghiệp thì phải nói một cách chuẩn xác. Có một nhân viên thực tập yêu cầu tôi hướng dẫn cách “làm màn hình nhạc”. Vì cụm từ “màn hình” có nghĩa là một thiết bị, tôi không hiểu người đó muốn gì. Sau một thời gian dài mới té ra là hắn muốn học cách lập siêu liên kết đem hình động truyền hình (video), ví dụ như của YouTube, vào văn bản (text). Mục đích của bài viết này là để giúp những ai mới bắt đầu làm quen với công nghệ web cần phải biết cách diễn đạt ý muốn mình một cách chuẩn xác khi yêu cầu người khác trợ giúp cho việc riêng chung của mình.

Một văn kiện chứa thông tin, có thể trong dạng văn bản hoặc nó chỉ chứa hình động dạng GIF hoặc hình động truyền hình (video) mà thôi. Nó thường liên quan tới một sản phẩm có thực qua việc viết bài và thường là nhằm để truyền đạt hoặc lưu trữ các bộ sưu tầm dữ kiện. Văn kiện thường hay là tiêu điểm và quan tâm của việc hành chính.

Thuật ngữ văn kiện có thể được áp dụng vào bất cứ sự đại diện ý nghĩa rời rạc nào, nhưng nó thường nói về một cái gì đó vật lý, hữu hình như là một hoặc nhiều trang được in ra, hoặc nói về một tệp, còn gọi là tệp tin, tức là một văn kiện “ảo” trong dạng số hoá, điện tử.

Tệp cũng có ý nghĩa như “tập tin” nhưng ngắn gọn và khó lẫn lộn với “tập”. Nếu khái niệm cơ bản không nói ngắn gọn được thì sau này sẽ khó diễn đạt khái niệm cao siêu một cách súc tích.

Xấp là một chồng giấy rời. Tập là một chồng giấy được đóng lại thành một đơn vị. Tệp là một tập ảo. Ảo không có nghĩa gì xấu hết nhưng có nghĩa là: hiện là như vậy trong bản chất hoặc tác dụng dù cho chưa có chính thức công nhận hoặc thú nhận. Một tệp tin trong trí ức máy tính có thể có bản chất và tác dụng của một cuốn sách mặc dù không ai gọi nó là sách mà gọi là sách ảo.

Tham khảo có nghĩa là đi lấy thêm thông tin, thường là ở trong tài liệu, nhằm tìm hiểu thêm để học hỏi, nghiên cứu, xử lí công việc cho tốt hơn. Khi tài liệu đánh dấu cho đọc giả biết đi đâu ở một nơi khác để tham khảo thêm thì đó gọi là dấu tham khảo.

Văn kiện dùng để tham khảo gọi là tài liệu. Nói một cách khái quát thì tài liệu là một cái gì đó liên quan tới hoặc chỉ định một cái gì khác, hoặc có tác dụng như là sự chấp nối hoặc liên kết giữa hai món đồ. Các món đồ do tài liệu liên kết với nhau có thể là cụ thể, như sách hoặc địa điểm, hoặc trừu tượng, như dữ kiện, tư tưởng, hoặc trí ức. Cả món đồ do tài liệu đặt tên lẫn món đồ do tài liệu chỉ điểm đều gọi là một quy chiếu.

Quy chiếu là một món đồ do một tài liệu đặt tên hoặc chỉ định. Dấu tham khảo trong tài liệu là một quy chiếu. Nơi tham khảo do dấu tham khảo dẫn đến cũng là một quy chiếu nhưng thường được gọi là tài liệu tham khảo.

John Stuart Mill (1806-1873) là một triết gia, một nhà kinh tế chính trị và cũng là thành viên của quốc hội nước Anh. Ông ta là một nhà tư tưởng phóng khoáng có thế lực của thế kỷ thứ 19.

 

Sự phân biệt giữa nghĩa rộng (connotation) và biểu thị (denotation)thường có liên quan tới triết gia John Stuart Mill, dù cho nó là già hơn nhiều. Sự phân biệt này nhằm để phản chiếu sự khác biệt trong cách một tên chung có được đầy ý nghĩa ra sao. Nghĩa rộng của một tên thuộc tính hoặc các thuộc tính do cái tên đó ngụ ý. Biểu thị của một tên là bất cứ vật thể nào mà cái tên đó áp dụng vào.

Biểu thị như trong thơ là chủ ý theo nghĩa đen của một từ, và nghĩa rộng là chủ ý gợi cảm của một từ. Cho thí dụ, cụm từ “thành phố” có quan hệ mật thiết với các thuộc tính như sự to lớn, sự đông dân. Nó biểu hiện các vật thể cá biệt như Hà Nội và Huế.

Tín hiệu học là truy cứu về các ký hiệu và các ký tự, cả hai một cách riêng lẻ hoặc được cho vào nhóm trong các hệ thống dấu hiệu. Nó kể cả truy cứu về cách ý nghĩa được kiến thiết và thấu hiểu.

Ngữ nghĩa học (semantics) nói về các khía cạnh của chủ ý được diễn đạt trong một ngôn ngữ, văn mã, hoặc sự đại diện có dạng khác của thông tin. Ngữ nghĩa học tương phản với hai khía cạnh khác của biểu thức có ý nghĩa, ấy là, cú pháp (syntax), sự xây dựng các ký hiệu phức tạp từ các ký hiệu đơn giản hơn, và dụng học (pragmatics), việc các tác nhân phiên dịch hoặc các cộng đồng phiên dịch sử dụng thực nghiệm các ký hiệu, cụ thể là những hoàn cảnh và những văn cảnh. Do quy ước thường lệ gọi một truy cứu hoặc lý thuyết bằng tên chủ đề của nó, ngữ nghĩa học có thể cũng biểu hiện truy cứu lý thuyết về ý nghĩa trong các hệ thống có các ký hiệu.

Mặc dù thuật ngữ hệ bổ dung đổi mới, những người viết về đề tài ý nghĩa nói chung công nhận hai loại chủ ý mà một biểu thức đầy ý nghĩa có được: (1) liên hệ mà một dấu hiệu có với các vật thể và các tình huống vật thể, thực có hoặc khả thi, và (2) liên hệ mà một dấu hiệu có đối với các dấu hiệu khác, đặc biệt nhất là những loại ký hiệu trí tuệ được hình thành trong óc như là các quan niệm.

Phần nhiều các nhà lý thuyết tra cứu liên hệ giữa một dấu hiệu và các vật thể của nó, bao giờ cũng tính luôn cả bất cứ bộ dạng nào của tham khảo mục tiêu, như biểu thị của nó. Vài nhà lý thuyết tra cứu liên hệ giữa một dấu hiệu và các dấu hiệu phục vụ trong sự phiên dịch thực nghiệm của nó như nghĩa rộng của nó, nhưng có nhiều quan điểm và phân ly khác biệt hơn về lý thuyết làm ra cho trường hợp này. Nhiều nhà lý thuyết, nhất là trong truyền thống có hình thức về ngữ nghĩa, thực dụng, và tín hiệu học, hạn chế ứng dụng đó của ngữ nghĩa học vào khía cạnh biểu thị, dùng những thuật ngữ khác hoặc hoàn toàn bỏ qua khía cạnh nghĩa rộng.

Trong việc dùng máy tính, một giao thức (protocol) là một quy ước hoặc tiêu chuẩn dùng để điều khiển hoặc làm cho có khả năng chấp nối, truyền thông, và chuyển đổi dữ liệu giữa hai đầu dây dùng máy tính. Trong dạng đơn giản nhất của nó, một giao thức có thể được định nghĩa như là quy tắc cầm quyền cú pháp, ngữ nghĩa học, và việc đồng bộ hoá của sự truyền thông. Các giao thức có thể được thực hiện đầy đủ bằng kim khí (thiết bị), phần mềm, hoặc một sự phối hợp của cả hai. Ở mức độ thấp nhất, một giao thức định nghĩa hành vi của một sự chấp nối kim khí.

Phần lớn siêu văn bản (hypertext) thường nói về văn bản trên một máy tính dẫn người dùng tới một văn bản khác, liên hệ thông tin qua nhu cầu. Siêu văn bản tương đối gần đây tượng trưng một sự cách tân cho việc giao tiếp người dùng, vượt qua được vài hạn chế của văn bản qua giấy tờ. Siêu văn bản làm khả thi một tổ chức động cho thông tin qua những liên kết và các chấp nối gọi là những siêu liên kết chứ không phải yên tĩnh như văn bản truyền thống. Siêu văn bản có thể được thiết kế để trình diễn các công việc khác nhau; chẳng hạn khi người dùng “nhấp chuột” vào nó hoặc cho du tiêu (con trỏ) “trôi lơ lửng” qua phía trên nó, một bong bóng với một định nghĩa từ ngữ có thể xuất hiện, hoặc một trang web về một chủ thể quan hệ có thể được tải vào, hoặc một kẹp hình động truyền hình có thể chạy, hoặc một ứng dụng phần mềm có thể khởi động.

Một siêu liên kết (hyperlink) thường được gọi đơn giản là một liên kết (link), là một tham khảo hoặc phần tử hàng hải trong một văn kiện tới đoạn khác trong cùng một văn kiện, một văn kiện khác, hoặc một đoạn nhất định của một văn kiện khác, mà tự động đem thông tin được giới thiệu tới người dùng khi phần tử hàng hải đó được người dùng tuyển chọn qua tác động bàn phím hoặc thiết bị con chuột. Cứ như vậy thì nó tương tự như một tuyên khai hoặc trích dẫn trong tác phẩm văn học, nhưng với phân biệt của việc truy cập lập tức một cách tự động. Hợp lại với một mạng lưới dữ liệu và giao thức truy cập thích hợp, một máy tính có thể được ra chỉ thị tìm đem về cho được tài nguyên đã được tham khảo.

Dấu đánh (markup) là bất cứ cái gì cả dùng để cộng thêm vào nội dung văn kiện nhằm miêu tả văn bản trong đó. Một ngôn ngữ đánh dấu (markup language) kết hợp văn bản và thông tin phụ thuộc nói về văn bản đó. Thông tin phụ, cho thí dụ cho biết về cấu trúc hoặc cách trưng bày văn bản, được diễn đạt bằng cách dùng dấu đánh, trà trộn với văn bản sơ cấp.

Ví dụ, văn bản sơ cấp có thể là một câu văn như sau:

Chúng tôi là tài nguyên ngoại bộ xa khơi cho một cường quốc.

Tôi có thể cho mọi người biết tôi muốn cho từ nào có màu đỏ, màu lam và từ nào viết đậm, viết nghiên bằng cách đánh dấu như sau:

Chúng tôi là [mau=lam]tài nguyên[/mau] [n]ngoại bộ[/n] [mau=nau]xa khơi[/mau] cho [x][mau=do]nhiều[/mau][/x] [d][mau=luc]một[/mau][/d] cường quốc.

Dòng chữ bao gồm văn bản sơ cấp và những dấu đánh cho biết thêm thông tin về văn bản sơ cấp gọi chung là văn mã. Những ký hiệu như [d] (bắt đầu viết đậm) và [n] (bắt đầu viết nghiên) gọi chung là một đầu thẻ lệnh. Những ký hiệu như [/d] (hết viết đậm) và [/n] (hết viết nghiên) gọi chung là một đuôi thẻ lệnh. Thẻ lệnh [dv] (bắt đầu đoạn văn) không cần phải có đuôi theo sau chót trong văn mã nhưng đa số các thẻ lệnh cần phải có đầu đuôi cho máy tính biết sẽ áp dụng chỉ thị của thẻ lệnh vào phần nào của văn bản sơ cấp. Khi cho văn mã trong ô tím trên đây vào Bảng viết nháp hoặc nội dung nơi khác trong hệ web ta (danhthieptoi.com) thì sẽ có kết quả như sau:

Chúng tôi là tài nguyên ngoại bộ xa khơi cho nhiều một cường quốc.

Những dấu đánh trong văn mã trên đây được viết theo cú pháp của ngôn ngữ đánh dấu cho môi trường tập sự gợi giao (TSGGML: Tập Sự Gợi Giao Markup Language). TSGGML còn gọi là văn mã web ta. Mục đích của văn mã web ta là để cho nhiều người có môi trường và phương thức tập sự, thực tập một cách có hệ thống học cách gợi giao, giao tiếp lâu dài với nhiều thành viên trong cùng một xã hội web chưa đựng một khối lượng thông tin phức tạp riêng chung ngoài tầm tưởng tượng của vài thế hệ trước. Khi muốn dùng văn mã web ta đem hình động truyền hình vào thì làm như cho thấy trong ví dụ này:

[hinhdong web=http://www.youtube.com/v/kevh74Oe46E]

Kết quả sẽ là như sau:

Nhấp chuột vào giữa hình động truyền hình trên đây hai lần xem phim trước khi đọc tiếp.

HTML viết tắt cho Hypertext Markup Language (ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản). HTML là ngôn ngữ đánh dấu trội hơn hẳn cho việc sáng tạo các trang web. Nó chu cấp một phương tiện diễn tả cấu trúc thông tin dựa trên văn bản trong một văn kiện — bằng cách biểu hiện phần nào của văn bản là những tựa văn bản, những đoạn văn, các danh sách, và nhiều thứ khác như thế — và bổ trợ văn bản đó với các mẫu đơn tương tác, hình ảnh nằm luôn ở bên trong văn bản, và các vật thể khác. HTML là được viết thành văn bản dưới dạng những nhãn hiệu gọi là những thẻ lệnh, bị bao vây với các dấu hiệu nhỏ hơn (<) và lớn hơn (>). HTML cũng có thể diễn tả được ở một mức độ nào đó dáng điệu và ngữ nghĩa của một văn kiện, và có thể bao gồm cả văn mã ngôn ngữ ra mã nằm luôn ở bên trong nhằm có khả năng ảnh hưởng hành vi những trình duyệt web và những chương trình phần mềm xử lý HTML khác.

Tim Berners-Lee

 

  Robert Cailliau

 

Trong khi làm một nhà thầu độc lập ở CERN từ tháng 6 tới tháng 12 năm 1980, Berners-Lee đề xuất một dự án có cơ sở trên quan niệm siêu văn bản, để làm thuận tiện việc chia sẻ và cập nhật thông tin giữa các nhà nghiên cứu. Trong lúc ở đó ông ta được xây một hệ thống nguyên mẫu tên là ENQUIRE. Sau khi rời khỏi CERN năm 1980 ông để đi làm ở công ty TNHH Image Computer Systems của ông John Poole, ông ta trở lại năm 1984 làm một nghiên cứu sinh (fellow). Vào năm 1989 CERN là giao điểm mạng web toàn cầu to lớn nhất ở Âu Châu, và Berners-Lee thấy một thời cơ để nối khái niệm siêu văn bản với khái niệm mạng web toàn cầu. Ông ta viết đề án vào tháng ba 1989, và trong năm 1990, với trợ giúp của Robert cailliau, đã cho ra một phiên bản mới và được sếp ông Mike Sendall chấp nhận. Ông dùng các ý kiến tương tự với những cái cơ bản của hệ thống ENQUIRE để tạo lập mạng web quốc tế. Ông đã thiết kế và xây dựng trình duyệt web đầu tiên cũng như phần mềm chủ bút (editor) đầu tiên cho nó.

Hầu hết tất cả các trang web trên thế giới đều dùng văn mã theo cú pháp tiêu chuẩn HTML để cho trình duyệt web trong máy khách biết cách tác giả muốn hiển thị văn kiện trên màn hình. Đọc giả thường có thể xem xét văn mã HTML, như có cho thấy trong video (hình động truyền hình) trên đây, bằng cách chọn mệnh lệnh View > Source (Xem > Mã nguồn) của trình duyệt web. Văn mã HTML dựa trên các thẻ lệnh tiếng Anh nên sẽ khó hiểu hơn văn mã web ta (TSGGML).

Văn mã HTML dưới đây cho thấy cách HTML thực hiện văn mã TSGGML trong ví dụ trước đây:

Chúng tôi là (<)font color=blue>tài nguyên(<)/font>[/mau] (<)i>ngoại bộ(<)/i>[/n] (<)font color=brown>xa khơi(<)/font>[/mau] cho (<)s>(<)font color=red>nhiều(<)/font>(<)/s> (<)b>(<)font color=green>một(<)/font>(<)/b> cường quốc.

Dấu mở và đóng ngoặc cho vào để ngăn chặn không cho máy khác thực thi chỉ thị của các thẻ lệnh HTML ví dụ như b (bold: bắt đầu viết đậm) và i (italic: bắt đầu viết nghiên). Nếu lấy hết các trang trí và dấu ngoặc ra nhưng cho ô trống vào kế sau các ký tự ít hơn (<) để, một lần nữa, không cho máy khác xử lý HTML, thì ta có văn mã sau đây:

Chúng tôi là < font color=blue>tài nguyên< /font> < i>ngoại bộ< /i> < font color=brown>xa khơi< /font> cho < s>< font color=red>nhiều< /font>< /s> < b>< font color=green>một< /font>< /b> cường quốc.

Lấy hết các ô trống kế sau dấu ít hơn thì sẽ có kết quả như sau:

Chúng tôi là tài nguyên ngoại bộ xa khơi cho nhiều một cường quốc.

Địa chỉ web này sẽ dẫn bạn đến tài liệu tham khảo cho biết các thẻ lệnh dùng trong văn mã web ta: tsggml.danhthieptoi.com. Vào Google tìm “html syntax reference” (tài liệu cú pháp HTML).

Advertisements

About cttmmd

creator of www.tapsu.com

2 comments on “Hypertext là gì? TSGGML, HTML là gì?

  1. loive345
    08-07-2007

    cach de dua hinh anh vao trang web moi lam xong

  2. GD
    20-10-2007

    Cám ơn những thông tin của Tô Mỳ Minh Duy !

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 19-06-2007 by in Công nghệ, CNTT, Làm blog, Làm Web, Lập trình, Phần mềm, Thiết kế, TSGGML, VBScript, Xã hội web.
%d bloggers like this: