Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

Đào tạo Lập trình viên

Bước đầu học Đại Việt Ngữ

Lưu ý: Bài viết này chưa hoàn chỉnh vì có sự nhầm lẫn giữa chữ nhún (springing) và nhúng (dipping).


Mục tiêu dịch thuật Đại Việt Ngữ là làm cho người Việt có khả năng thể hiện tất cả những khái niệm hoàn toàn bằng tiếng Việt mà không cần phải mượn thậm chí lạm dụng ngoại ngữ. Dưới đây là cách thể hiện cái hay cái đẹp của dịch thuật Đại Việt Ngữ. Người Việt không cần phải dùng Đại Việt Ngữ để trao đổi với người Việt khác nhưng nếu thấu hiểu được Đại Việt Ngữ thì sẽ có cách đi tới mức độ thượng thừa cho khả năng tiếng Anh của mình. Nếu không nắm bắt được tiếng Việt ở mức độ thượng thừa thì sẽ không nắm bắt được tiếng Anh thượng thừa.

Nội dung bài viết này không phải là một sự tuyệt đối trong chất lượng dịch thuật. Đây chỉ là cách gợi ý cho biết phương hướng của dịch thuật Đại Việt Ngữ. Đại Việt Ngữ sẽ không khác La tinh. Ít ai dùng trong lời nói nhưng phải học nếu muốn gia tăng khả năng trí tuệ.

Nội động từ bước (step) có nghĩa là dùng chân cho thân mình đi tới. Đi tới mà không cần bước thì gọi là trượt (slide), ví dụ trượt tuyết. Trượt theo đường cong thay vì đường thẳng thì gọi là lượn (glide). Trượt nhanh quá như khi đạp nhầm vỏ chuối thì gọi là té (slip). Té tại chổ gọi là nghiêng (slant). Nghiêng quá nhiều gọi là ngã (topple). Ngã bất ngờ thì gọi là vấp (stumble). Ngã từ trên cao thì gọi là rớt (fall). Tự cho mình rớt với đầu đi trước thì gọi là lao (plunge). Ngã xong rồi thì gọi là nằm (lay). Nằm trên nước thì gọi là nổi (float). Rớt trong nước thì gọi là chìm (sink). Tự cho mình chìm thì gọi là hụp (dive). Bơi dưới nước gọi là lặn (underwater diving). Tự chìm vào đất thì gọi là lún (subside). Cho nằm trong đất thì gọi là chôn (bury).

Nếu những nội động tự trên đây không tự làm cho mình nằm vào đúng vị trí như ý người khác thì họ sẽ dùng ngoại động từ cho mình vào vị trí bất ngẫu nhiên. Ngoại động từ đặt (put) có nghĩa là cho một món nằm vào một nơi nào đó. Đặt vào vị trí có nghĩa là để (place). Để nằm giữa hai vách sát nhau gọi là lộng (insert), ví dụ lộng hình. Để vào bên trong món khác mà thiếu chỗ chứa thì gọi là nhét (stuff). Nhét vào chất lỏng rồi lấy ra liền gọi là nhúng (dip). Nhúng lâu hơn nhưng sẽ lấy ra thì gọi là ngâm (soak). Nhúng mà không lấy ra thì gọi là dìm (submerge). Tự dìm mình thì gọi là lặn (dive under). Dìm vào đất thì gọi là vùi (stick in), ví dụ: đừng có vùi đầu mình vào cát (don’t stick your head in the sand).

Cái nghĩa nguyên thuỷ của cụm từ, stick your head in the sand, xuất hiện là vì hồi đó, từ thế kỹ thứ nhất bên La mã, người ta cho rằng mấy con đà điểu vùi đầu xuống dưới đất khi có nguy cơ. Sự thật thì, dựa theo bài viết này, mình sẽ không bao giờ bắt gặp con đà điểu vùi đầu xuống dưới đất một cách tự nhiên. Ngày nay cụm từ, vùi đầu mình vào cát, có nghĩa là: thờ ơ với những tin xấu với hy vọng chúng sẽ biến mất. Hởi ơi đó là chiến lược học tiếng Anh của nhiều người nhất là ở Việt Nam: vùi đầu vào cát với hy vọng rằng tương lai mình sẽ không bị ảnh hưởng xấu vì mình thiếu kiến thức tiếng Anh thậm chí chưa rành tiếng Việt. Bài viết này là một trong những bước đầu trong công cuộc lấy đầu tiếng Việt ra khỏi cát nhằm hoá giải tệ nạn đụng đâu nói đó nhất là trong những ngành nghề dựa vào công nghệ mới chưa từng có trong nhiều thế hệ trước.

Vì cả include lẫn embed không có nghĩa là lấy ra liền nên dịch thuật Đại Việt Ngữ không cho phép dùng nhúng khi dịch include hoặc embed. Vậy thì phải dịch sao cho chuẩn xác đây? Câu hỏi này là lý do cho sự hiện diện của bài này. Nó gợi ý cho biết nên đi đường nào để giải quyết vấn đề này.

Những ngoại động từ sau đây gợi ý là đối tượng không nhất thiết muốn ở yên với chủ thể. Làm cho đứng lại gọi là giữ (hold). Giữ sao cho không bị phải buông ra gọi là níu (cling). Giữ sao cho không nhút nhíc là giữ yên (steady). Giữ bằng tay gọi là cầm (hold with the hand). Cầm hết gọi là túm (grab). Túm chặt bằng nhiều ngón gọi là nắm bắt (grasp).

Những ngoại động từ trên không đụng chạm gì đến hình dạng. Nếu muốn làm cho dẹp lép thì phải ép (flatten). Ép từ mọi phía cùng một lúc gọi là bóp (crush), đó là ngược lại với nới (loosen). Bóp cho nhão gọi là nghiền (pulp). Dùng răng để bóp nhiều lần gọi là nhai (chew). Nhai chưa được thì gặm (crunch). Nhai từ mọi phía cùng một lúc gọi là nghiến (grind). Nghiến bằng một con dao gọi là bằm (chop). Nghiến bằng mỏ chày (pestle) gọi là giã (bray). Nghiến cho mất vỏ nhưng không làm nát gọi là xay (husk). Xay từng cái một gọi là bóc (peel). Bóc lớp mỏng bên ngoài hết gọi là lột (skin).

Phân tán kết quả của hành động nghiến gọi là rải (scatter). Rải nhiều hạt nhỏ gọi là gieo (sow). Gieo một hạt duy nhất gọi là trồng (plant). Tự trồng gọi là mọc (grow). Dời nơi trồng gọi là cấy (transplant).

Tách đôi thì gọi là chẻ (cleave). Để đi với nhau thì gọi là cặp (couple). Làm dính với nhau luôn thì gọi là ghép (connect). Ghép cho dài ra gọi là nối (join). Ghép nhiều phần lại với nhau gọi là ráp (assemble). Ghép lại như trồng trọt gọi là cấy ghép (implant), ví dụ cấy ghép răng.

Vì hai khái niệm include và embed gần nghĩa của khái niệm implant hơn là dip cho nên dịch thuật Đại Việt Ngữ đòi hỏi kết quả phiên dịch phải ra cho được cụm từ tiếng Việt gần nghĩa khái niệm cấy ghép hơn là khái niệm nhúng. Ai giải quyết được vấn đề dịch thuật cho hai khái niệm include và embed xin vui lòng cho tác giả bài viết này biết ngay để có thể kết thúc bài viết này một cách ổn thoả.

Hình dưới đây cho thấy hôm nay nhờ việc biên soạn nội dung trên mà từ điển VietnamQA trên web ta có thêm 37 mục có chất lượng tốt hơn xưa: có mục mới vừa cho vào, có mục mới vừa cập nhật.

Khi nói về quan hệ giữa một phần của một tổng thể nào đó, mình phải thấu hiểu tận tường, tức là phân biệt được cách dùng năm khái niệm hiện thân (embody), kể cả (include), bao hàm (comprehend), bao gồm (comprise), và đón trọn (embrace), đều ngụ ý chứa đựng các phần của một tổng thể. Kể cả (include) có nghĩa là chứa một hoặc nhiều thành viên của một tập họp, ví dụ: danh sách này kể cả mọi người trong lớp mình dù đã đóng tiền rồi hay chưa. Bao hàm (comprehend) có nghĩa là có được nhưng nội trong một giới hạn một phần của tổng thể, ví dụ: kế hoạch này bao hàm nhiều dự án. Bao gồm (comprise) có nghĩa là gồm có những phần cần thiết để làm cho có một tổng thể, ví dụ: phái (genus) này bao gồm 50 loài (species). Đón trọn (embrace) nhấn mạnh chừng mực hoặc xếp loại những món chứa đựng, ví dụ: mọi người hân hoan đón trọn niềm vui tết đến.

Thế thì khái niệm include làm việc như “hành động” của một tổng thể và hành động này áp dụng vào các phần của tổng thể đó chứ không phải là sự áp dụng một “hành động” của kẻ thứ ba vào một phần của tổng thể như trong trường hợp của khái niệm nhúng. Hơn nữa, include không dời phần nào của tổng thể đi nơi khác trong khi đó nhúng đem một món bên ngoài tổng thể vào bên trong tổng thể rồi “lấy ra liền”. Thế nên ai muốn đạt mức thượng thừa trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh thì phải tránh kết nối khái niệm nhúng với khái niệm include trong tâm trí mình. Càng làm điều này vì áp lực đồng liêu (peer pressure) trong ngành nghề mình càng dẫn mình tới sự hoàn toàn sụp đổ (complete collapse) của ngôi nhà trí tuệ trong nội thất tâm trí mình. Thay vì nhúng bạn nên dùng vùi khi nói đến include, xem ví dụ dịch thuật dưới đây:

Trong việc lập trình máy tính, nhất là trong ngôn ngữ lập trình C và C++, tệp đầu đề (header file) hoặc tệp vùi (include file) là một tệp tin, thường trong dạng mã nguồn, mà trình biên dịch tự động đem vào khi xử lí một tệp nguồn khác. Dân lập trình thường xác định việc vùi thêm mã nguồn từ các tệp đầu đề qua các chỉ thị cho trình biên dịch ở phía trước (hoặc phần đầu) của tệp nguồn khác. In computer programming, particularly in the C and C++ programming languages, a header file or include file is a file, usually in the form of source code, that a compiler automatically includes when processing another source file. Typically, programmers specify the inclusion of header files via compiler directives at the beginning (or head) of the other source file.

Trong CNTT một trong những khái niệm dễ nhầm nhất với include là khái niệm embed, có cách viết khác đi nhưng cùng nghĩa là imbed. Trong tiếng Anh, tiền tố en- có nghĩa là đặt hoặc giam hãm (confine) vào trong, ví dụ: entomb có nghĩa là đặt xuống mộ. Tiền tố em- là một cách viết khác và cũng có nghĩa như vậy. Trong tiếng Anh chữ bed (cái giường) là từ cụm từ “bedd a grave” mà ra. Chữ bedd trong trường hợp này có nghĩa là đào (dig): “bedd a grave” có nghĩa là đào (dig) một cái mồ. Khái niệm cái giường phát sinh từ việc này mà ra. Xưa kia muốn có giường thì phải đào!

Chữ embed có nghĩa là cho nằm cố định vào một khối quanh đó (to fix into a surrounding mass). Hành động này giống như vùi hơn là nhúng. Nhưng vì tổng thể không phải là đất cát mà là sắt đá nên không vùi (stick in) được mà trước hết phải đục (broach) và khoét (pierce) rồi mới đẩy mạnh cho lách qua (bore) lách lại đi vào mặc dù phải từ từ mới đi được hết vào. Việc này khó hơn vùi (stick in) nên không dễ như nhúng (dip). Vậy thì không nên cho nhúng đi với embed trong tâm trí mình.

Phần dưới đây chưa viết hoàn chỉnh vì có sự nhầm lẫn giữa chữ nhún (springing) và nhúng (dipping).

Hình trên là của một hệ thống nhún. Những ai trong CNTT dùng cụm từ hệ thống nhún (suspension system) để thể hiện khái niệm hệ thống chạm trổ (embedded system) thì sẽ có vấn đề khi hãng làm xe yêu cầu các anh lập trình viên tạo phần mềm chạm trổ (embedded software) nhằm điều khiển ống nhún xe đời mới của họ.

Dịch thuật dưới đây cho thấy cách công nghệ từ điển Đại Việt Ngữ tiểu chuẩn hoá việc phiên dịch tự động cả danh từ lẫn động từ của khái niệm embed cho công nghệ thông tin:

An embedded system is a computer system designed to perform one or a few dedicated functions often with real-time computing constraints. It is embedded as part of a complete device often including hardware and mechanical parts. By contrast, a general-purpose computer, such as a personal computer, is designed to be flexible and to meet a wide range of end-user needs. Embedded systems control many devices in common use today. Một hệ thống chạm trổ là một hệ máy tính được thiết kế để trình diễn một hoặc nhiều chức năng chuyên môn nhằm đương đầu với các thúc ép của dòng thời gian trong việc dùng máy tính. Nó nằm luôn ở trong như một phần của toàn thể một thiết bị và hay bao gồm cả phụ tùng kim khí lẫn phụ tùng cơ khí. Để tương phản, một máy vi tính với chủ tâm làm nhiều việc khái quát, ví vụ như là một máy tính cá nhân, được thiết kế để có thể linh hoạt đáp ứng một tầm rộng nhiều nhu cầu khác nhau của người dùng đứng cuối chuổi cung cầu. Các hệ thống chạm trổ điều khiển nhiều thiết bị thường dùng ngày nay.
Advertisements

2 comments on “Bước đầu học Đại Việt Ngữ

  1. Pingback: Mục lục Tập truyện Hành trình Tony Minh « Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

  2. Hiep Phat
    06-12-2012

    😀 ko hiểu lắm he

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 04-12-2012 by in Minh Duy.
%d bloggers like this: