Chương trình Tô mỳ Minh duy

Giải quyết hiệu quả vấn đề trong những mối quan hệ

Giới thiệu Đại Việt Ngữ

Bước đầu Lập trình

Tony Minh Duy 

Người lập trình gọi là lập trình viên. Khi học lập trình cần nắm vững trước tiên về khả năng trao đổi chuẩn xác qua tiếng mẹ đẻ. Khi tiếp cận vấn đề cần lập trình thì phải hiểu lý do tại sao cần phải lập trình. Người biết lý do đó ở đây tạm gọi là yêu sách viên. Khách hàng là người trả tiền nhưng khách hàng bình thường không phải là người biết cách ra yêu sách. Họ cần phải có yêu sách viên. Yêu sách viên là người ra yêu sách cho biết cần phải lập trình như thế nào nhưng yêu sách viên không nhất thiết là người dùng kết quả lập trình. Thế nên, trước khi rành về việc phát sinh yêu sách thì không nên quá lo về cú pháp ngôn ngữ lập trình. Điều này không có nghĩa là lập trình viên phải làm theo sự phân tích của yêu sách viên vì họ ít khi nào biết cách phân tích hệ thống giỏi hơn lập trình viên.

Điều thứ nhất học viên lập trình cần phải quan tâm không phải là học cách phân tích một hệ thống mà là học cách trao đổi với yêu sách viên về những gì cần phải lập trình nhưng hoàn toàn bằng tiếng mẹ đẻ. Vì trường không có môn này nên nhiều lập trình viên ở Việt Nam học xong rồi thì chỉ biết cách nhai đi nhai lại mã nguồn và ý tưởng có rồi thay vì phát sinh một hệ thống phần mềm nguyên thuỷ. Bằng chứng cụ thể là ít có ai làm một trang web có nhiều ý tưởng nguyên thuỷ mà tây phương chưa bao giờ có. Ví dụ, một ý tưởng phần mềm dựa hoàn toàn vào văn hoá nước ta thay vì nương tựa vào giao diện do mã nguồn tây phương sếp đặt.

Vào đầu thế kỹ thứ 21 người Việt ít khi nào thành công trong việc học lập trình trong tuổi vị thành niên vì họ không nắm bắt được sự chuẩn xác của tiếng mẹ đẻ. Đó là vì tiếng Việt không phải là một ngôn ngữ được khoa học hoá qua nhiều thế hệ. Thế nên họ phải đợi đến lúc học xong tiếng Anh mới ra ý tưởng lập trình. Ý tưởng phần mềm toàn là do người nói tiếng Anh phát sinh vì họ đã trầm ngâm chuẩn xác về nó trong tuổi vị thành niên, nhiều năm trước khi lập trình nhằm thực hiện ý tưởng, nhất là cho ước mơ lớn nhất đời mình.

Để thay đổi thế cờ, người mới vào học lập trình cần phải nghiên cứu phương thức phát triển phần mềm gọi là Lập trình Cực độ (Extreme Programming) và một loại tiếng Việt chuẩn xác chưa có nhiều người biết đến gọi là Đại Việt Ngữ (Greater Vietnamese Language). Hai phần kế sẽ giới thiệu Đại Việt Ngữ rồi những phần sau đó sẽ giới thiệu Lập trình Cực độ.

Giới thiệu Đại Việt Ngữ

Đại Việt Ngữ (Daivietngu) là công nghệ từ điển, gọi là VietnamQA, dân web ta dùng để đối chiếu tất cả các khái niệm mấu chốt trong văn hoá tiếng Anh. Dân web ta dùng Daivietngu để thể hiện văn bản tiếng Việt ở mức độ chuẩn xác không thua gì tiếng Anh, xem Đại Việt Ngữ cơ bản. Dịch thuật dưới đây cho thấy phần nào khả năng phiên dịch của từ điển VietnamQA trên web ta:

 

Ông nội cô ấy là anh em cùng cha khác mẹ với bà ngoại mình phải không? Is it true that her paternal grandfather is our maternal grandmother’s paternal half brother?

Đại Việt Ngữ đòi hỏi mình phải phân biệt được ba khái niệm xưa như mục đích (purpose), mục tiêu (objective) và khung thành (goal). Nó cũng đòi hỏi mình phải thể hiện được nhiều khái niệm mới như khái niệm chất huyết điệu (serotonin: C10H12N2O), đó là hợp chất hữu cơ trung gian chuyển tải xung động thần kinh từ tế bào này sang tế bào khác, và khái niệm ống than phần tỉ (carbon nanotube). Ống than phần tỉ là những băng rôn hóa chất do các nhà khoa học của Đại học Công lập Texas tại Dallas mới vừa dệt được nhiều thước vuông lần đầu tiên năm 2005. Loại vải này nhẹ như lông mà cứng hơn thép – một thăng tiến đột phá trong ngành nhanh phát triễn gọi là công nghệ phần tỉ (nanotech). Vải ống than phần tỉ 5000 lần mỏng bề dầy cọng tóc con người có thể dùng để mai quần áo chống súng đạn và đao kiếm. Chất ống than phần tỉ cũng có thể dùng để làm bắp thịt cho người máy. Có cả trăm ngàn ứng dụng khác mà chưa ai nghĩ ra được.

Bài viết trong phần kế tiếp cho thấy cách dịch thuật Đại Việt Ngữ làm sáng tỏ vài khái niệm cơ bản nhất trong công nghệ mà nhiều người Việt dễ bị nhầm lẫn khi muốn đi sâu vào vấn đề. Không nên cảm thấy xấu hổ khi cần phải đọc lại thêm vài lần nữa mới nắm bắt được tài liệu dưới đây.

Giao diện là gì? What is interface?

Giao diện (interface) có nghĩa là điểm giao tiếp giữa hai đối tượng. Khi cả hai đối tượng đều là con người thì giao diện gọi là trung gian (intermediary). Trung gian tình cảm gọi là bà mối (matchmaker) và trung gian làm ăn gọi là môi giới (middle man).

Khi cả hai đối tượng giao tiếp đều là bộ phận phần mềm thì điểm giao tiếp giữa hai bên gọi là giao diện lập trình (API: application program interface). Lập trình viên ra lệnh bộ phận này (ông A) yêu cầu bộ phận kia (ông B) phục vụ mình bằng cách dùng giao diện lập trình do bộ phận kia quy định trong mã nguồn của bộ phận này. Ông A muốn ông B phục vụ mình thì ông A phải liên lạc ông B bằng cách làm theo lời hướng dẫn trên danh thiếp của ông B. Danh thiếp đó gọi là giao diện lập trình khi cả ông A lẫn ông B đều là bộ phận phần mềm.

Khi bên này là con người và bên kia là phần mềm thì điểm giao tiếp giữa hai bên gọi là giao diện điều khiển (user interface). Nó gọi là giao diện đồ hoạ (GUI: graphical user interface) khi người dùng điều khiển phần mềm bằng cách tương tác với những phần tử đồ hoạ do phần mềm phô trương trên màn hình. Giao diện điều khiển mà không có đồ hoạ thì thường là giao diện dòng lệnh (command-line interface).


Giao diện Dòng lệnh

Công nghệ web ngầm (web service technology) cho phép hai bộ phận phần mềm trên hai máy tính từ xa có khả năng qua mạng hoạt động với nhau cho cùng một mục đích. Giao diện trong trường hợp này gọi là giao diện web ngầm (web service) và nó thường đi vào hoạt động khi người dùng khởi xướng qua giao diện điều khiển trên một trình duyệt web nào đó. Bạn có thể thấy được thông tin thời tiết trên một trang web nhưng trang web đó có thể dùng giao diện web ngầm lấy dữ liệu mới nhất từ một hệ web chuyên cung cấp thông tin thời tiết trên trình duyệt web cho người dùng cũng như qua giao diện web ngầm cho các hệ web khác.

Mục đích Đại Việt Ngữ là để học sinh cấp I ở Việt Nam không cần tiếng Anh để có khả năng tiếp thu cũng như thể hiện tất cả các khái nhiệm trên thế giới không thua gì các học sinh cấp I ở nước Mỹ, nước Úc và nước Anh. Thế nên, trong trường hợp này, Giao thức (protocol) Đại Việt Ngữ không đối chiếu cụm từ “dịch vụ web” với khái niệm “web service” vì bên tiếng Việt dịch vụ web có nghĩa là dịch vụ qua web (online service) trong khi đó bên tiếng Anh cụm từ web service (giao diện web ngầm) không có nghĩa là online service (dịch vụ web).

Giao thức (protocol) là quy tắc cho cú pháp (syntax), ngữ nghĩa học (semantics), và sự đồng bộ hoá (synchronization) trong việc truyền thông. Giao thức làm cho mình có khả năng chấp nối, truyền thông, và giao chuyển dữ liệu giữa hai dứt điểm điện toán (computing endpoints). Dân web ta có thể cho rằng Đại Việt Ngữ là giao thức văn hoá Việt Mỹ. Đại Việt Ngữ là quy tắc cho cú pháp, ngữ nghĩa, và sự đồng bộ hoá trong việc dịch thuật chuẩn xác tất cả các khái niệm giữ hai nền văn hoá Việt và Mỹ.

Advertisements

One comment on “Giới thiệu Đại Việt Ngữ

  1. Pingback: Mục lục Tập truyện Hành trình Tony Minh « Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 04-12-2012 by in Minh Duy.
%d bloggers like this: