Chương trình Tô mỳ Minh duy

Giải quyết hiệu quả vấn đề trong những mối quan hệ

Triết lý là gì? Tại sao cần phải có?

Ai cần Triết lý?

Giả sử bạn là một phi hành gia mất hết sự điều khiển nên phi thuyền bị rơi trên một hành tinh chưa ai biết. Khi bạn tỉnh lại và tìm thấy bạn không bị đau trầm trọng, ba câu hỏi đầu tiên trong trí óc bạn có thể là: tôi đang ở đâu? làm sao tôi biết được vậy? tôi nên làm gì?

Bạn thấy không quen với cây cối bên ngoài, và ở đó cũng có không khí để thở; nắng tỏ ra nhạt hơn là bạn nhớ và lạnh hơn. Bạn tính ngước lên nhìn trời, nhưng khựng lại. Bạn bị đánh dồn với một cảm giác đột ngột: nếu bạn không nhìn, bạn sẽ không phải khám phá rằng có lẽ mình ở quá xa trái đất và không thể trở về được; miễn sao bạn không biết điều đó, bạn tự do tin điều mình ước — và bạn thực nghiệm một loại hy vọng lờ mờ, dễ chịu, nhưng không hiểu sao có phần nào cảm thấy tội lỗi đối với chính mình.

Bạn quay sang các công cụ điều khiển của bạn: chúng có thể đã bị làm hư hại, bạn không biết độ trầm trọng. Nhưng bạn ngừng lại, bị dồn dập với một nổi lo sợ đột ngột: làm sao bạn có thể nào tin tưởng vào những cái công cụ này? Làm sao biết chắc rằng chúng sẽ không làm cho mình lầm đường lạc lối? Làm sao biết chúng vẫn làm việc tốt trong một thế giới khác? Bạn ngoảnh mặt khỏi các công cụ.

Bây giờ bạn bắt đầu tự hỏi tại sao bạn không còn khát khao làm gì cả. Hình như có nhiều an toàn hơn chỉ đợi cho cái gì đó không hiểu sao xuất hiện; tốt hơn là, bạn tự nhủ, không nên rung chuyển cái phi thuyền. Xa xa, bạn thấy có một số sinh vật đang tiến đến gần; bạn không biết họ là con người hay không, nhưng họ dạo bộ trên hai chân. Họ, bạn quyết định, sẽ nói bạn nên làm gì.

Từ đó không ai còn nghe tin từ bạn nữa.

Đó là quái thoại, bạn nói? Bạn sẽ không động tác như thế và chưa có phi hành gia đã từng làm vậy? Có lẽ không có. Nhưng đó là cách đa số con người sống cuộc đời họ, ở đây, trên trái đất.

Đa số con người tiêu dùng những ngày của họ lận đận lảng tránh ba câu hỏi mà các câu trả lời là nền tảng cho mỗi ý tưởng, cảm giác và hành động của con người, cho dù mình có cố ý biết hay không: tôi đang ở đâu? làm sao tôi biết được? tôi nên làm gì? Khi họ lớn đủ để hiểu những câu hỏi này, con người tin rằng họ biết các câu trả lời. tôi đang ở đâu? ở thành phố Nữu Ước. Làm sao tôi biết được? Đó là điều hiển nhiên. Tôi nên làm gì? Câu hỏi này, họ không có quá chắc — nhưng theo lệ thường thì câu trả lời là: bất cứ cái gì mọi người đang làm. Chỉ có điều phiền muộn tỏ ra là họ không năng động, không tự tin, không thật vui — và đôi khi họ thực nghiệm một sự lo sợ vô cớ và một cảm giác tội lỗi chưa định rõ mà họ không thể giải thích hoặc tống khứ đi được cái cảm giác đó.

Họ chưa bao giờ khám phá ra được một điều thực tế rằng cái phiền muộn đến từ ba câu hỏi kia chưa được trả lời — và rằng chỉ có một khoa học có thể trả lời chúng: triết học.

Năm Nhánh Trong Triết Học

Triết học nghiên cứu bản chất chủ yếu của sự hiện hữu, của con người, và của quan hệ con người với sự hiện hữu. Trái với các khoa học đặc biệt, chỉ giao du với các khía cạnh đặc thù, triết học đối phó với các khía cạnh vũ trụ gắn liền với mọi sự vật có mặt. Trong địa hạt trí thức hiểu biết, các khoa học đặc biệt là những cái cây, nhưng triết học là đất trồng làm cho có được rừng.

Triết học sẽ không nói, chẳng hạn, cho bạn biết mình đang ở Nữu Ước hoặc ở Zanzibar, mặc dù nó sẽ đưa cho bạn phương tiện để biết chắc. Nhưng nó sẽ cho bạn biết: có phải bạn đang ở trong một vũ trụ do các điều luật tự nhiên cai trị và, cho nên, nó là một nơi vững bền, rắn chắc, tuyệt đối — và nhận biết được? hoặc có phải bạn đang ở trong một nổi hỗn mang không thể hiểu, một địa hạt đầy các nhiệm mầu không giải thích được, một luồng không đoán trước được, không nhận thức được, cái mà trí óc của bạn quá lọm khọm để níu lấy? Những cái bạn thấy quanh mình có thực — hoặc chúng chỉ là ảo ảnh? Sự có mặt của chúng có lệ thuộc vào bất cứ quan sát viên nào — hay là quan sát viên đã tạo lập ra chúng? Họ là vật thể hay là chủ thể của ý thức con người? Có phải họ là họ hay họ có thể được thay đổi chỉ cần qua một động tác ý thức của bạn, như là một điều ước? Bản chất các hành động mình và của hoài bão mình sẽ khác biệt tuỳ theo các câu trả lời bạn chịu chấp nhận. Những câu trả lời này là địa hạt của siêu hình học — việc truy cứu về sự hiện hữu, nhánh cơ bản của triết học.

Không cần biết bạn đã có kết luận gì, bạn sẽ bị giáp mặt với sự cần thiết trả lời một câu hỏi tất yếu khác: làm sao tôi biết được nó? Vì con người không có toàn trí toàn thức hoặc không sai lầm được, bạn phải khám phá cái gì bạn có thể tự cho là kiến thức và làm sao cho thấy kết luận mình có căn cứ vững chắc. Con người có giành được kiến thức bằng một quá trình lý luận không — hoặc bằng một khải huyền đột ngột phát xuất từ một cường lực siêu nhiên? Lý luận có phải là một tính năng nhận dạng và tích hợp vật liệu do những cảm giác của con người chu cấp — hay là nó được các ý kiến bẩm sinh nuôi dưỡng mà các ý kiến đó đã từ lâu cắm chặt vào trí óc con người trước khi ra đời? Lý luận có thành thạo đủ để nhận thấy thực tại hay không? Hoặc con người có nắm giữ vài tính năng khác liên quan đến nhận thức cao thượng hơn lý luận hay không? Con người chiếm đạt được điều chắc chắn hay bị bắt phải chịu có hồ nghi không ngừng? Tầm cở tâm phúc của chính bạn và của thành công bạn sẽ khác biệt, tuỳ theo như các câu trả lời bạn sẽ chấp nhận. Những câu trả lời này là địa hạt của nhận thức luận, lý thuyết về kiến thức, nghiên cứu phương tiện trí thức hiểu biết của con người.

Hai nhánh này là nền tảng lý thuyết của triết học. Nhánh thứ ba, đạo đức học, có thể được coi như là công nghệ của nó. Đạo đức học không có ứng dụng vào mọi sự vật mà chỉ dùng cho con người, nhưng nó áp dụng vào mọi khía cạnh đời sống của con người: bản sắc con người, các hành động con người, các giá trị con người, quan hệ con người tới tất cả của hiện hữu. Đạo đức học, hoặc đạo đức, định nghĩa một quy luật về các giá trị nhằm dìu dắt các sự chọn lựa và các hành động của con người. Những sự lựa chọn và các hành động này xác định tiến trình đời sống của con người. Giống như phi hành gia trong truyện không biết nên làm gì, vì đã cự tuyệt không muốn biết nơi mình đang có mặt là đâu và làm sao khám phá nó, bạn không thể biết bạn nên làm gì cho đến khi bạn biết về bản chất vũ trụ mình, bản chất phương tiện hiểu biết của mình — và bản chất của mình. Trước khi bạn đến với đạo đức học, bạn phải trả lời những câu hỏi đề ra do siêu hình học và nhận thức luận: con người có phải là một loài vật hợp lí, có khả năng đương đầu với thực tại — hay chỉ là một cái gì đó không vừa, không tự lực được, và mù quáng, một khoanh mỏng bị cái luồng toàn vũ trụ vùi dập? Thành tựu và thích thú khả thi cho con người trên trái đất hay họ bị bắt phải chịu thất bại và chán ghét? Tuỳ thuộc vào các câu trả lời, bạn có thể tiếp diễn để cân nhắc những câu hỏi đạo đức học đề ra: cái gì là tốt hoặc độc địa cho con người, và tại sao? Quan tâm sơ cấp của con người có nên là truy tìm cho được niềm vui hay là thoát ly khỏi cảnh cùng cực? Khung thành của đời sống nên là để đáp ứng hay huỷ diệt chính mình? Con người có nên đeo đuổi các giá trị của hắn hay có nên đặt các quyền lợi của những người khác phía trên quyền lợi riêng của mình? Con người có nên cố tìm cho được hạnh phúc hay chỉ hy sinh bản thân mình? Tôi không cần phải chỉ điểm hết sự khác biệt giữa những hậu quả của các câu trả lời ở hai bên. Bạn có thể thấy chúng mọi nơi bên trong bạn cũng như ở quanh bạn.

Các câu trả lời của đạo đức học xác định cách con người đối xử với nhau, và điều này xác định nhánh thứ tư của triết học: chính trị học, định nghĩa các nguyên lý của một hệ thống xã hội chỉnh tề. Như là một ví dụ của chức năng triết học, triết học chính trị sẽ không nói bạn nên bị hạn chế khẩu phần dầu xăng bao nhiêu và vào ngày nào trong tuần — nó sẽ cho bạn biết chính phủ có nên ra thuế hải quan cho bất cứ việc hạn chế khẩu phần nào cho bất cứ việc gì cả.

Nhánh thứ năm và cuối cùng của triết học là mỹ học, truy cứu về nghệ thuật, có cơ sở tại siêu hình học, nhận thức luận và đạo đức học. Nghệ thuật đương đầu với các điều thiết cần – lấy thêm nhiên liệu – cho ý thức con người.

Các ý tưởng Trừu tượng

Bây giờ một số các bạn có lẽ đã nói, như nhiều người có nói: “ôi, tôi không bao giờ suy nghĩ bằng các ngôn từ trừu tượng như vậy – tôi muốn đương đầu với các vấn đề cụ thể, đặc thù và đời sống thực tại – tôi cần triết học để làm gì?” Câu trả lời của tôi là: để có khả năng đương đầu với các vấn đề cụ thể, đặc thù và đời sống thực tại, để có thể sống trên trái đất này.

Như đa số nhiều người đã làm rồi, bạn có lẽ đã tự cho rằng, bạn không bao giờ bị ảnh hưởng vì triết học.

Tôi sẽ yêu cầu bạn kiểm lại quả quyết mình. Có bao giờ bạn đã từng tưởng hoặc nói những điều sau đây hay không? “Đừng có chắc – không ai nắm chắc được bất cứ cái gì cả.” Bạn đã lấy được khái niệm này từ David Hume (và nhiều người khác), ngay cả dù cho bạn có lẽ đã không bao giờ nghe ai nhắc tới hắn. Hoặc: “Cái này có thể là tốt trong lý thuyết, nhưng nó không làm được trong thực tế.” Bạn đã có được cái này từ Plato. Hoặc: “Thật là một sự thối nát để làm, nhưng đó chỉ vì là của con người, không ai hoàn hảo trên đời này.” Bạn đã có được điều đó từ Augustine. Hoặc: “Nó có thể là đúng cho bạn, nhưng nó không như vậy đối với tôi.” Bạn đã có được nó từ William James. Hoặc: “Đó là ngoài ý muốn, không một ai có thể trợ giúp gì hắn làm cả.” Bạn đã có được nó từ Hegel. Hoặc: “tôi không thể chứng minh nó, nhưng tôi cảm thấy nó là sự thật.” Bạn đã có được điều này từ ông Kant. Hoặc: “Điều đó hợp lý, nhưng luận lý không liên can gì đến thực tại.” Bạn đã có được nó từ Kant. Hoặc: “Điều đó độc địa vì là đồ ích kỷ.” Bạn đã có được nó từ Kant. Bạn có nghe giới năng động hiện đại nói: “hành động trước, suy nghĩ sau”? Họ đã có được nó từ John Dewey. Vài người có lẽ đã trả lời: “chắc rồi, tôi có nói những cái đó nhiều lần khác nhau, nhưng tôi không phải luôn luôn tin vào mấy thứ đó. Nó có thể là thật hôm qua, nhưng nó không có thật hôm nay.” Họ đã có được nó từ Hegel. Họ có lẽ đã nói: “sự kiên định là con yêu quỷ của các trí óc nhỏ nhoi.” Họ đã có được nó từ một trí óc rất nhỏ, Emerson. Họ có lẽ đã nói: “nhưng sao không thể thương lượng và mượn các ý kiến khác biệt từ các triết học khác biệt theo mưu chước của khoảnh khắc?” Họ đã có được nó từ Richard Nixon – người mà đã có được nó từ William James.

Tự hỏi mình ngay bây giờ: nếu bạn không phải quan tâm đến các ý kiến trừu tượng, tại sao bạn (và mọi người) cảm thấy bị buộc phải dùng chúng? Điều thực tế là các ý kiến trừu tượng là các tích hợp quan niệm gộp vào một con số không đếm xuể của những cái cụ thể — và nếu không có các ý kiến trừu tượng bạn đã không thể có khả năng để đương đầu với các vấn đề cụ thể, đặc thù, các vấn đề của đời sống thực tế. Bạn sẽ vẫn nằm trong vị trí bé mới sinh còn thơ ấu, đối với bé mỗi vật thể là một hiện tượng độc đáo, chưa từng thấy. Sự khác biệt giữa trạng thái trí tuệ của đứa bé đó và cái của mình nằm trong số các tích hợp quan niệm trí óc của bạn đã thực hiện được rồi.

Bạn không có sự lựa chọn về sự cần thiết trong việc tích hợp các quan sát của bạn, các kinh nghiệm của bạn, kiến thức của bạn vào các ý kiến trừu tượng, ví dụ, vào các nguyên lý. Sự lựa chọn duy nhất của bạn là cho những nguyên lý này là đúng hoặc sai, cho dù chúng đại diện cho giác ngộ tỉnh trí, hợp lí của bạn — hoặc chỉ là một túm các khái niệm chụp giật ngẫu nhiên, mà mình lại không biết gì về nguồn gốc, cơ sở, văn cảnh và hậu quả, các khái niệm mà bạn sẽ cho rớt như là một củ khoai nóng nếu bạn biết.

Nhưng các nguyên lý bạn cố ý hoặc theo tiềm thức chấp nhận có thể ẩu đả với hoặc mâu thuẫn lẫn nhau; chúng cũng phải được tích hợp. Cái gì tích hợp chúng? Triết học. Một hệ thống triết học là một quan điểm được tích hợp của sự hiện hữu. Là một con người, bạn không có sự lựa chọn về cái điều thực tế rằng bạn cần một triết lý. Sự lựa chọn duy nhất của bạn là cho bạn định nghĩa triết lý mình bằng một quá trình tư tưởng tỉnh trí, hợp lí, kỷ luật và suy tính từng ly từng tí hợp lý — hoặc để cho tiềm thức của bạn tích luỹ một đống đồ vụn có toàn là những kết luận không có lý do xác đáng, các sự tổng quát hoá sai nhầm, các sự mâu thuẫn chưa định rõ, các khẩu hiệu lộn xộn, các tiếng rít chưa truy ra gốc tích, các hồ nghi và những lo sợ, được ném với nhau qua sự tình cờ, nhưng được tích hợp bằng tiềm thức của bạn vào một phần nào triết lý người lai và được hợp nhất lại vào một trọng lượng đơn độc, chắc nịch: hồ nghi chính mình, như là một trái banh và dây xích ở cái chổ đáng lẽ là nơi mấy cái cánh trí tuệ của bạn nên mọc.

Bạn có lẽ đã nói, như nhiều người đã làm, rằng nó không là việc dễ dàng nếu luôn hành động dựa trên các nguyên lý trừu tượng.

Không, nó không dễ dàng. Nhưng nó khó hơn biết bao, nếu phải hành động dựa vào chúng mà không biết gì về chúng? Tiềm thức của bạn là như một máy vi tính — nhiều phức tạp hơn một máy vi tính con người có thể xây — và chức năng chính yếu của nó là tích hợp các ý kiến của bạn. Ai lập trình nó? Trí óc tỉnh trí của bạn. Nếu bạn bỏ mặc, nếu bạn không vối tới bất cứ một giác ngộ rắn chắc nào, tiềm thức của bạn bị lập trình một cách tình cờ — và bạn đem giao bản thân mình vào cường lực của các ý kiến bạn không biết bạn đã chấp nhận. Nhưng không cách này thì cách khác, máy vi tính của bạn đưa cho bạn giấy in ra, hằng ngày và hằng giờ, trong dạng xúc cảm — cái mà là ước lượng chớp mắt của những cái quanh bạn, được tính toán theo như các giá trị của bạn. Nếu bạn lập trình máy vi tính của bạn bằng suy nghĩ tỉnh trí, bạn biết được bản chất các giá trị và xúc cảm của bạn. Bằng không thì không.

Ai lập trình Tiềm thức mình?

Nhiều người, nhất là ngày nay, tự cho rằng con người không thể sống bằng luận lý cô độc, rằng ở đó có nguyên tố xúc cảm của bản chất hắn cần phải cân nhắc, và rằng họ dựa vào sự chỉ đạo của xúc cảm họ. Khá tốt, ông phi hành gia trong truyện tôi cũng vậy thôi. Cái trò cười nằm trên hắn — và trên chúng: các giá trị và xúc cảm của con người là do quan điểm chủ yếu của đời hắn quyết định. Lập trình viên tối thượng của tiềm thức hắn là triết lý — cái khoa học mà, theo giới đa cảm, thì quá lọm khọm để ảnh hưởng hoặc xâm nhập các huyền bí u ám của xúc cảm họ.

Chất lượng xuất kết của một máy vi tính là do chất lượng nhập liệu của nó xác định. Nếu tiềm thức của bạn bị lập trình tình cờ, xuất kết của nó sẽ có một bản sắc tương ứng.

Bạn chắc là có nghe thuật ngữ hùng biện của giới thợ máy vi tính “gigo” (garbage in, garbage out) — có nghĩa là: “rác vào thì rác ra.” Cùng một công thức đó áp dụng được vào quan hệ giữa suy nghĩ và xúc cảm của một người.

Một người do xúc cảm điều hành thì như là một người do một máy vi tính điều hành mà người đó không thể đọc được giấy in ra của máy vi tính đó. Người đó không biết việc lập trình là thật hay giả, trúng hay sai, nó sẽ dẫn hắn tới thành công hay sự huỷ diệt, nó phụng sự khung thành của hắn hay những cái đó của vài cường lực độc địa, không nhận thức được. Hắn bị mù trên hai mặt trận: mù trong thế giới quanh hắn và mù trong thế giới nội tâm của chính hắn, bất lực níu lấy thực tại hoặc các động cơ của chính hắn, và hắn luôn kinh hoàng cả hai. Xúc cảm không là các công cụ trí thức. Người mà không quan tâm đến triết học cần nó cấp bách nhất: phần lớn họ không tự chủ được trước cường lực nó.

Người mà không quan tâm đến triết học hấp thu các nguyên lý của nó từ khí quyển văn hoá quanh chúng — từ các trường học, các cao đẳng, những cuốn sách, các tạp chí, các tờ báo, phim ảnh, truyền hình, vân vân. Ai đặt giọng cho văn hoá? Một số ít người: giới triết học.

Những người khác theo sau sự dẫn dắt của họ, bằng giác ngộ hoặc mặc định. Gần hai trăm năm, dưới thế lực của Immanuel Kant, xu hướng có ưu thế của triết học bị dẫn tới một khung thành đơn độc: sự huỷ diệt của trí óc con người, của tâm phúc hắn trong cường lực của sự lý luận. Hôm nay, chúng ta thấy cao đỉnh của xu hướng đó.

Khi người bỏ hoang lý trí, họ thấy không chỉ xúc cảm họ không thể dìu dắt họ mà họ không có kinh nghiệm xúc cảm ngoại trừ một: sự kinh hoàng. Di căn đồ mắc nghiện ở giữa số đông giới trẽ, do các thời trang trí năng đem lên trên hôm nay, biểu diễn tâm trạng không chịu nổi của con người đã bị tước đi phương tiện trí thức hiểu biết của họ và cố tìm cho được thoát ly khỏi thực tại — từ sự kinh hoàng của sự bất lực họ trong việc đương đầu với sự hiện hữu. Quan sát cái sợ độc lập của giới trẽ này và khát khao phát điên của họ để “thuộc về,” để gắn chính họ với vài nhóm, bè lũ hoặc lũ cướp. Phần lớn họ chưa bao giờ nghe nói đến triết học, nhưng họ cảm thụ rằng họ cần vài câu trả lời chủ yếu tới những câu hỏi họ không dám hỏi — và họ hy vọng rằng bộ tộc họ sẽ cho biết cách sống. Họ dễ bị áp đảo vì bất cứ phù thuỷ, nhà uy tín, hoặc nhà độc tài nào. Một trong những cái nguy hiểm nhất một người có thể làm là đầu hàng đưa sự tự trị hợp đạo đức (moral autonomy) của mình cho những người khác: như phi hành gia trong truyện của tôi, hắn không biết họ là con người, dù cho họ đi trên hai chân.

Cách truy cứu Triết học

Bây giờ bạn có thể hỏi: nếu triết học độc địa như thế, tại sao nên truy cứu nó? cầu kỳ hơn, tại sao nên truy cứu các thuyết triết lý sai nhầm om xòm, làm không ra cảm thụ, và không mang liên hệ đến đời sống thực tế? trả lời của tôi là: bảo hộ chính mình và phòng thủ sự thật, công lý, tự do, và bất cứ giá trị nào bạn đã từng nắm bắt hoặc sẽ bao giờ nắm giữ.

Không phải mọi nhà triết học đều độc địa, dù cho quá nhiều là thế, nhất là trong lịch sử hiện đại. Mặt khác, ở gốc rễ mỗi thành tựu văn minh, như là khoa học, công nghệ, tiến triển, tự do — ở cái rễ mỗi giá trị chúng ta thưởng thức hôm nay, tính luôn cả cái sự sinh đẻ quê nhà này (nước Hoa Kỳ) — bạn sẽ tìm cái thành tựu của một người, người mà đã sống trên hai ngàn năm về trước: Aristotle.

Nếu bạn cảm thấy không gì nhưng toàn là những nỗi buồn tẻ khi đọc các thuyết hầu như không hiểu được của vài nhà triết học, bạn có sự thông cảm sâu nhất của tôi. Nhưng nếu bạn chải chúng sang một bên, rồi lại nói: “tại sao tôi nên truy cứu mấy thứ này khi tôi biết nó vớ vẩn?” — bạn hiểu sai. Nó thì vớ vẩn, nhưng bạn không biết nó — không biết nếu bạn vẫn tiếp tục thu nhận tất cả các kết luận của họ, tất cả các cụm từ truyền rao hằn học do giới triết học phát sinh. Và không biết nếu bạn bất lực để bẻ lại chúng.

Điều không vớ vẩn đó quan hệ tới phần cốt yếu nhất, vấn đề sống chết cho sự hiện hữu của con người. Ở gốc mỗi lý thuyết triết học đầy ý nghĩa, có một vấn đề chính đáng với ý nghĩa rằng ở đó là một cái cần xác thực của ý thức con người, cái mà một số các thuyết đấu tranh để bày tỏ và những cái khác đấu tranh để làm bối rối, để mua chuộc, để ngăn ngừa con người không cho khám phá. Cuộc chiến giữa các triết lý gia là một trận đánh cho trí óc của con người. Nếu bạn không hiểu các thuyết của họ, bạn dễ bị tổn thương vì cái tệ nhất ở giữa đám người này.

Cách tốt nhất để truy cứu triết học là dùng phương sách mà độc giả dùng cho một truyện trinh thám: theo sau mỗi vệt, manh mối và dính líu, nhằm khám phá ai là một kẻ sát nhân và ai là một anh hùng. Tiêu chuẩn cho việc nhận thấy là hai câu hỏi: Tại sao? và Cách nào? Nếu một giáo lý tỏ ra thật — tại sao? Nếu một giáo lý khác tỏ ra sai nhầm — tại sao? Và nó được đặt lên trên bằng cách nào? Bạn sẽ không tìm thấy tất cả các câu trả lời liền tức khắc, nhưng bạn sẽ giành được một đặc trưng vô giá: tư duy thiết thực, đó là khả năng suy nghĩ bằng ngôn từ các điều thiết thực.

Không gì con người tự nhiên có được, kiến thức cũng không, lòng tự tin cũng không, thanh thản nội tâm cũng không, ngay cả quyền sử dụng trí mình cũng không. Mỗi giá trị mình cần hoặc muốn thì mình phải khám phá, học hỏi và tiếp thu mới có được – ngay cả cái tư thế chỉnh tề của thân xác mình… Đào tạo triết lý làm cho một con người được chỉnh tề trong tư thế trí năng – một sự điều khiển kỷ luật và hảnh diện của trí óc người đó.

Một điều quan trọng trong khoa học quân lực là theo dõi cho được khí giới, chiến lược và chiến thuật của kẻ thù – và luôn sẳn sàng phản công chúng. Trong triết lý cũng vậy thôi: mình phải hiểu các ý kiến của kẻ thù và sẳn sàng để bẻ lại chúng, mình phải biết các lý lẽ cơ bản của họ và phải có khả năng để làm bọn chúng nổ tung.

Advertisements

4 comments on “Triết lý là gì? Tại sao cần phải có?

  1. Pingback: Mục lục Tập truyện Hành trình Tony Minh « Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

  2. Pingback: Phản ứng về Tiền đề Cơ bản « Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

  3. Pingback: Phản ứng về Tiền đề Cơ bản Nhất đời « Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

  4. Pingback: Tu thân là gì? Bắt đầu bằng cách nào? « Tô Mỳ Minh Duy (CTTMMD)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on 04-12-2012 by in Minh Duy.
%d bloggers like this: